Làng nghề thủ đô mở rộng: Khát vốn và nguyên liệu

Từ ngày 1-8, vùng đất trăm nghề hợp nhất với Hà Nội, Thủ đô trở thành một trong những nơi có nhiều làng nghề nhất trong cả nước.

Với ưu thế giải quyết nguồn lao động lớn khu vực nông thôn, làng nghề sẽ đóng góp tích cực vào công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, các làng nghề đang đứng trước nhiều khó khăn bởi giá cả tăng đột biến nguồn nguyên liệu và vốn thiếu trầm trọng.

Hiện nay, các DN, hộ sản xuất đang phải đối mặt với khó khăn lớn về nguồn nguyên liệu đầu vào và nguồn vốn. Nguyên liệu cho ngành mây, tre giang đan nói riêng và các nghề khác nói chung từ đầu năm đến nay đều tăng giá từ 30 đến 50%, có loại tăng tới 100% so với năm 2007, trong khi sản phẩm xuất khẩu không thể tăng giá. Chưa có vùng nguyên liệu, các làng nghề đều phải mua nguyên liệu từ các tỉnh Sơn La, Lai Châu..., chi phí vận chuyển tăng nên giá cao.

Nguồn nguyên liệu khan hiếm, giá cả tăng cao không những làm đình trệ sản xuất mà đáng buồn hơn còn khiến một số làng mất nghề như: Nghề đan cót ở Nghĩa Hương không còn do thiếu nứa; nghề chế biến tinh bột ở Tân Hòa, Cộng Hòa mai một do khan hiếm sắn và dong riềng...

Theo Chủ tịch Hiệp hội làng nghề mây giang đan, các ngân hàng thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lạm phát là cần thiết nhưng nguồn vốn khan hiếm, lãi suất tăng cao khiến các làng nghề lao đao, sản xuất bị đình trệ, hàng vạn lao động không có việc làm. Hiện nay, các DN làng nghề đang cố gắng cầm cự, chịu lỗ để giữ khách hàng, giữ thị trường và giữ người lao động, nhưng không thể cầm cự mãi nếu bị lỗ triền miên.

Hiện nay, ai cũng thấy rằng làng nghề có vai trò rất quan trọng ở nông thôn vì 70% thu nhập kinh tế của người dân dựa vào nghề chứ không phải dựa vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, bộ máy quản lý nhà nước ở địa phương chưa có bộ phận chuyên trách hỗ trợ, giúp đỡ làng nghề. Đặc biệt, công tác quy hoạch vùng nguyên liệu cho làng nghề chưa được quan tâm.

Về nguồn vốn vay,  Phó giám đốc Ngân hàng chính sách chi nhánh Hà Tây, cho biết NH đang có 7 chương trình tín dụng ưu đãi, trong đó có hai chương trình có “dính dáng” đến làng nghề là: Cho vay giải quyết việc làm và cho vay hỗ trợ DN vừa và nhỏ, song nguồn vốn rất eo hẹp. Năm 2008, ngân hàng chỉ được bổ sung nguồn vốn 4,5 tỷ đồng cho chương trình cho vay giải quyết việc làm; còn chương trình hỗ trợ DN vừa và nhỏ không được bổ sung nguồn vốn.

Thực tế, nhìn lại việc giải ngân ở NH trong 6 tháng đầu năm 2008, mới chỉ có 4.135 lượt khách hàng ở khu vực làng nghề (chưa được 10% trong tổng số lượt khách hàng của NH) được vay vốn với số dư nợ 68,2 tỷ đồng (bằng 20% tổng số dư nợ của NH). Cả hai chương trình này đều có những hạn chế do lượng vốn cho vay không lớn (tối đa không quá 500 triệu đồng/dự án), vòng vốn vay rất ngắn, thời gian thực hiện cho vay kéo dài do phải qua nhiều thủ tục hành chính lòng vòng...

Ở Ngân hàng Phát triển, đối tượng thuộc làng nghề được vay vốn là những doanh nghiệp xuất khẩu ngắn hạn trực tiếp (không kể hàng dệt may xuất khẩu) nhưng mới chỉ có 4 doanh nghiệp đang vay vốn với số dư nợ hơn 10 tỷ đồng. Vì vậy, các làng nghề được hưởng sự ưu đãi từ nguồn vốn này không được bao nhiêu.

Thực tế, khi trao đổi với các DN - linh hồn của các làng nghề trong khu vực, chúng tôi nhận thấy họ đều đồng tình với các chương trình chống lạm phát của Thủ tướng Chính phủ nhưng cũng đề nghị Nhà nước nên có chính sách và nguồn vốn ưu đãi hỗ trợ cho làng nghề.

Chủ tịch Hiệp hội Mây, tre giang đan so sánh: Khi không còn thị trường các nước Đông Âu, các làng nghề ở nước ta mai một rất nhanh và để khôi phục làng nghề phải mất 10 đến 15 năm và phải tốn biết bao công sức, tiền của. Vì vậy, Chính phủ nên có chính sách ưu đãi, đặc biệt là chính sách về vốn để cứu các làng nghề như chương trình hỗ trợ vốn để cứu nghề nuôi cá da trơn. Bên cạnh đó là quy hoạch các vùng nguyên liệu cho làng nghề và tăng cường bộ phận quản lý ở cơ sở.

 

(Hà Nội mới ngày)

 
© 2008 Copyright by VCCI EXPO. All rights reserved.
Thiết kế Website DTN